1
Mùa xuân năm Thiên Khải thứ mười lăm, Vị Thành đổ một trận mưa nhỏ.
Ta mặc kệ mẫu thân còn nằm dưới đất, vội vã lao đến bên giếng, vớt đệ đệ đã sặc nước lên.
Nắm lấy chân nó, dốc ngược, ép cho nước trong bụng trào ra.
“Khụ… khụ…”
Rốt cuộc cũng ho ra được.
Đứa trẻ mới ba tu/ ổ/ i nhìn mẫu thân một cái, tủi thân đến cực điểm, liền bật khóc oa oa.
Mẫu thân tỉnh lại, cũng khóc.
“Phận ta sao mà khổ đến thế này… hu hu…”
Một gian nhà tranh, hai tiếng khóc thê lương.
Khiến lòng ta bực bội vô cùng.
Cuối cùng không nhịn được, ta mỗi người ban cho một cái tát.
“Khóc cái gì? Chúng ta tay chân đầy đủ, không có mấy đồng bổng lộc của kẻ phụ bạc kia, lẽ nào lại c/ h/ ết đói hay sao?”
Mẫu thân cùng đệ đệ sững sờ nhìn ta, đôi mắt đỏ hoe đầy vẻ kinh ngạc.
Dường như không ngờ một kẻ tính tình nhu nhược như ta, lại có lúc cứng rắn đến vậy.
Khoảnh khắc ấy, mẫu thân bỗng xem ta như trụ cột của gia đình, ánh mắt tràn đầy kỳ vọng.
“Nếu không còn bổng lộc của phụ thân con, tiền đâu mà mua củi gạo mắm muối?”
Đệ đệ cũng phụ họa:
“Đúng vậy, tiền từ đâu ra?”
2
Bán đậu phụ, đậu bì, đậu khô.
Nhưng không bán loại sống.
Từng miếng từng lát đều được chần qua nước hành gừng, khử đi mùi đậu, rồi thả vào nồi nước kho sôi sùng sục, nấu nửa canh giờ, lại ủ thêm một canh giờ.
Khi vớt ra, hương thơm lan tỏa khắp phố phường.
Đến lúc cho vào giỏ, phủ vải mang ra chợ bán, phía sau đã có một đám trẻ con lem luốc ngửi mùi mà bám theo.
Vị Thành gió lớn, khắp nơi đầy cát bụi.
Trẻ nhỏ nơi đây đứa nào cũng lấm lem bùn đất.
“Đậu phụ đây! Đậu phụ ngũ vị thơm ngon đây!”
Mẫu thân nếm thử đậu khô ta làm, liền không còn ý định tìm chết nữa. Nay lại gạt bỏ thể diện, lớn tiếng rao hàng.
“Ồ? Đây chẳng phải người nhà Lâm giáo đầu sao? Sao lại ra bán đậu phụ? Chẳng lẽ Lâm giáo đầu ở kinh thành đã có người mới, bỏ rơi các người rồi?”
Kẻ lên tiếng là một bà lão bán rau. Ngày thường mẫu thân mua rau của bà ta, vẫn thường được bà ta khen là có phúc.
Nay biết bị ruồng bỏ, lại lộ vẻ hả hê.
Mẫu thân liếc bà ta một cái, không chút xấu hổ.
“Đúng vậy, người ta trèo cao rồi, bỏ mặc ba mẹ con chúng ta. Không có hắn, chúng ta vẫn phải sống. Đành bỏ mặt mũi, ra chợ kiếm miếng ăn mà thôi.”
Bà bán rau thở dài:
“Ngươi nói phải. Không thể trông cậy vào nam nhân, thì vẫn phải sống tiếp. Ta cũng vậy, khi vừa mang thai, phu quân đã chết nơi chiến trường. Bao năm qua, một mình nuôi con…”
Những lời sau đó ta không còn nhớ rõ.
Chỉ thấy dài dòng lê thê như mảnh vải quấn chân bà già.
Mẫu thân vừa chuyện trò, vừa bán đậu phụ, thỉnh thoảng còn giúp bà ta bán rau.
Ta phụ trách đếm tiền, đồng thời trông chừng đệ đệ không được ăn vụng.
Mẫu thân đưa tay xoa đầu ta.
“Trường Ca, đừng nghĩ đến việc đi tìm phụ thân con nữa. Hắn sẽ không quay đầu. Ba mẹ con ta sống cho tốt, ấy mới là điều quan trọng.”
Ta lắc đầu.
“Nhất định phải đi. Phụ thân đã ở lại kinh thành, không còn ai thay phiên đi lính. Mẫu thân nỡ để đệ đệ ra chiến trường sao? Hay là người cùng ta đi?”
Với thân phận như chúng ta, ra chiến trường chẳng khác nào chịu chết.
Nhưng mấy ngày gần đây, đám man di nơi thảo nguyên lại bắt đầu quấy nhiễu.
Chúng cưỡi ngựa lớn lượn qua ngoài thành, ý khiêu khích rõ ràng.
Ta lo Vị Thành khó mà giữ vững.
“Con đi!”
Đệ đệ ba tuổi cầm thanh mộc kiếm do phụ thân làm cho, múa may loạn xạ.
“Nguyệt hắc nhạn phi cao, Thiền vu dạ độn đào.
Dục tương khinh kỵ trục, Đại tuyết mãn cung đao.
Phụ thân nói con là nam tử hán, sau này sẽ thành đại anh hùng, con sẽ bảo vệ mẫu thân và tỷ tỷ!”
Nó đọc thơ ta dạy, múa kiếm kín kẽ.
Mẫu thân nhìn nó, hai mắt đỏ hoe, vội lấy tay che miệng, không dám bật khóc.
“…Được. Chúng ta vào kinh.”
....