15
Ta đi về phía Nam, qua không ít nơi, cuối cùng dừng chân tại một bến đò. Nơi ấy gọi là Thanh Phố, chợ nước kề ngay mép đường, thuyền bè ra vào không ngớt. Thành chẳng lớn, nhưng vì thông sông nối biển nên cũng phồn hoa tấp nập.
Dọc theo bến, ta trông thấy mấy chiếc thuyền cũ bị bỏ lại. Ngoài số bạc Giang Phù đưa, cộng với ít bạc riêng mang ra từ Lục phủ, cũng đủ để ta an cư lập nghiệp, chẳng lo cơm áo.
Chỉ là, bạc không nên phô bày, lòng cũng chẳng thể để nhàn rỗi. Ta không muốn cả ngày thu mình trong nhà, nhìn tháng ngày trôi lặng lẽ.
Bỏ ra ba mươi lạng bạc, ta mua một chiếc thuyền bán đồ ăn đã cũ. Thuyền tuy đã xước mòn, song khung ván vẫn chắc, bếp lò mái che đủ cả, chỉ cần quét dọn là có thể mở hàng. Nhưng ta vốn không rành đường thủy nên chẳng dám tự mình chèo chống.
Trần bá trông coi thuyền biết ta muốn buôn bán trên sông, bèn giới thiệu cho một người lái. Điều kiện là mỗi tháng trả ba trăm quan, lo hai bữa cơm, lại biếu thêm hai cân trà cùng ba thước vải.
Ngày hôm sau, người kia tới, chừng hai mươi tuổi, da ngăm đen, cánh tay rắn chắc, ít lời nhưng động tác gọn gàng. Hắn tự xưng là Lâm Nhị.
Lâm Nhị tính trầm, mọi việc lớn nhỏ trên thuyền đều nghe theo sự sắp đặt của ta. Ta thấy rất yên tâm.
Hôm khai trương, ta dậy thật sớm. Bày ra mấy món tự tay làm: gà nếp gói lá sen, cơm cải khô, đĩa lạc ngâm dấm, lại thêm một nồi cháo lá sen nóng hổi, trong đó có hai bát rau nhỏ hầm gà.
Món chẳng nhiều, nhưng thanh mát, vừa miệng, giá cũng phải chăng. Chưa đến trưa, đã bán sạch không còn.
Ngày đầu lời lãi chẳng bao, nhưng coi như lấy khởi đầu. Từ đó, gió thổi nước trôi, khói lửa hun đúc, ngày ngày nối tiếp.
Chớp mắt đã đến mùng tám tháng ba.
Sáng hôm ấy, người khách đầu tiên bước lên thuyền… lại là một gương mặt quen.
16
Lục Khê Đình vẫn cao ráo, chỉ là gầy đi nhiều.
Hắn đứng một mình nơi bến tàu khi bình minh còn chưa tan, vạt áo thấm lạnh hơi sương.
Ta lên bờ, mời hắn một bát trà.
Hắn cúi đầu nhấp một ngụm, rồi chậm rãi mở lời:
“Ta không thành thân nữa. Giang Bình, về với ta đi.”
Ta lắc đầu, giọng bình thản:
“Lục đại nhân, ta vừa mua một sân nhỏ ở đây, tạm thời không đi đâu cả.”
Bến tàu vẫn ồn ào, thuyền xe như mắc cửi, người người huyên náo. Nhưng trong khoảnh khắc này, trời đất dường như chỉ còn lại hai chúng ta.
Hắn im lặng rất lâu, rồi khẽ nói:
“Giang Bình, ta không muốn ép ngươi.”
Ta ngẩng mắt nhìn hắn.
Người kiêu ngạo thì dễ gãy, kẻ trong sạch thì dễ vấy bẩn. Lục Khê Đình từ lúc nào đã trở nên thế này?
Hắn vốn giỏi mưu tính, quen lợi dụng lòng người, đến cả lời cầu xin cũng mang theo sự chắc chắn và toan tính.
Thứ hắn muốn, không tiếc giá nào, không từ thủ đoạn nào cũng phải có được. Trước kia là quyền thế, bây giờ là ta.
Hắn hủy hôn — ấy là thành ý.
Hắn từ xa tìm đến — ấy là thành tâm.
Nhưng ta muốn gì, hắn có bao giờ hỏi chưa?
Xưa nay ta luôn thuận theo hắn, nghe lời hắn, phục tùng hắn, việc gì cũng lấy hắn làm đầu. Có lẽ hắn chưa từng nghĩ, một nô tỳ không cần phải làm đến mức ấy.
Bởi trước đây, là ta yêu hắn.
Ta cũng tự rót cho mình một tách trà, mỉm cười nói:
“Lục đại nhân, cho phép ta nói một câu từ kinh nghiệm của mình. Ngươi dẫu toàn tâm toàn ý tốt với một người, nhưng nếu điều đó không phải là thứ người ta muốn, cuối cùng cũng chỉ uổng công.”
Mày hắn khẽ nhíu, dường như chưa hiểu.
“Ngươi muốn gì? Phu thê hòa thuận, con cháu đầy đàn? Ngôi nhà cũ ta đã mua lại, sửa sang xong xuôi, ngươi về là có thể ở ngay.”
Ta khẽ cười. Sao hắn vẫn chưa hiểu?
Dù có quay về ngôi nhà đó, con người cũng chẳng thể trở lại như xưa. Ở nơi ấy, ta từng có được những thứ vốn không thuộc về mình, cũng đã đánh mất những thứ vốn chẳng giữ nổi. Đó là lựa chọn của ta, không trách ai.
Ta từng một lòng lui về vị trí “nô tỳ”: gọi là đến, việc gì cũng tự tay lo liệu, uống thuốc hại thân, sắp xếp hôn sự, dọn đường đón người.
Nhưng nô tỳ, dù hèn mọn đến đâu, rốt cuộc vẫn là con người. Ta rất đau khổ.
Trong đời ta, Lục Khê Đình giống như củ cà rốt treo lơ lửng, mãi ở nơi ta không với tới. Khi khao khát, đó là dày vò; khi buông bỏ, lại thành cám dỗ. Mà con người, ai chẳng sợ đau.
Cho đến một khoảnh khắc, ta bỗng hiểu ra.
Có một việc, ta có thể làm được:
Ta có thể ngừng yêu hắn.
— Rất lâu trước khi Lục Khê Đình kịp quyết định yêu ta.
“Lục Khê Đình.” Ta nhìn thẳng vào mắt hắn, từng chữ rõ ràng, “Thứ ta muốn, chỉ có một. Ta muốn ở một nơi không có ngươi.”
Đặt mấy đồng tiền trà xuống bàn, ta đứng dậy cáo từ.
Từ trước đến nay, luôn là ta nhìn theo bóng lưng hắn, luôn là ta đuổi theo hắn.
Giờ, ta chọn quay đầu.
Bến tàu vẫn ồn ã, người bán hàng rong rao gọi, trẻ con nô đùa.
Ta trở về thuyền, xắn tay áo, lại bắt đầu công việc của mình.
Sống qua ngày, vốn dĩ chẳng cần đến minh châu.
17
Ta ở Thanh Phố năm năm. Năm năm ấy, triều đình đổi thay như chong chóng, kẻ mới người cũ, quyền lực xoay vần.
Lục Khê Đình ban đầu theo Tam hoàng tử, sau lại kết thân cùng nhà họ Giang, khéo léo xoay chuyển, thế lực dâng cao, chỉ còn cách ngôi Tể tướng một bước.
Thế nhưng, ngay lúc quyền thế ngút trời, chuyện cũ lại bị phanh phui – trước khi nhập sĩ, hắn từng thi hộ cho người khác, liên lụy đến gần trăm người.
Từ thi viện, thi hương, đến thi hội, đều có bút tích của hắn. Vụ án nổ ra, cả triều đình chấn động, giới sĩ tử bàn tán xôn xao.
Thiên tử giận dữ, hạ chỉ điều tra kỹ lưỡng. Lục Khê Đình bị bắt giam, trong lao tự viết lời khai, nhận tội rành mạch, chỉ để lại một câu: “Xin bệ hạ xét lại vụ án cũ của Lục gia.”
Dư luận dậy sóng, cuối cùng vụ án Lục gia buộc phải được lật lại.
Đến lúc ấy, mọi người mới hay: Lục Khê Đình đã sớm lặng lẽ thu thập chứng cứ, chỉ đợi thời cơ.
Năm xưa, Lục gia bị ghép tội làm chậm trễ lương thảo, khiến Đàm lão tướng quân tử thủ thành trì không được cứu viện, rốt cuộc bị diệt tộc.
Nhưng chân tướng là: tất cả đều do mật chỉ của Thánh thượng. Trì hoãn lương thảo, mục đích là để bào mòn binh quyền họ Đàm, dọn đường cho Thái tử lập công. Thái tử được phong vị, còn Lục gia lại trở thành vật hi sinh.
Vụ án còn dang dở, hoàng đế bất ngờ lâm trọng bệnh, hôn mê bất tỉnh.
Triều đình rơi vào cục diện rắn mất đầu.
Phe Thái tử và phe Tam hoàng tử tranh quyền kịch liệt, giằng co đến mức lưỡng bại câu thương.
Giữa lúc ấy, nhà họ Giang biết tiến thoái, lấy lùi làm tiến, ngồi chờ thời cơ.
Một tin đồn cũ từ nhiều năm trước cũng được lật lại – có tin đồn Giang Phù năm mười sáu tuổi đã sinh một nhi tử ở biệt trang, nhiều cung nhân làm chứng, đứa con đó chính là Tứ hoàng tử.
Hoàng đế băng hà, Thái tử chết, các hoàng tử đều trọng thương.
Tứ hoàng tử đăng cơ khi tuổi còn nhỏ, triều chính do Thái hậu Giang Phù buông rèm, quyền thế rơi vào tay nhà họ Giang.
Mà Lục Khê Đình, từ tử tù bỗng được nghênh tiếp vào nội đình, chỉ một đạo thánh chỉ liền trở thành Nhiếp chính vương.
Cả triều đình, từ quan lại đến dân gian đều kinh hãi.
Khi ấy mới hiểu: vụ án “gian lận thi cử” vốn là ván cờ do chính hắn tự vạch áo cho người xem lưng. Tam hoàng tử có giao tình với hắn, bị liên lụy không tránh khỏi; phe Thái tử lại càng dốc sức điều tra, tưởng rằng một đòn hạ sát, ai ngờ tự đào hố chôn mình.
Lục gia được minh oan, phe Thái tử chịu đòn nặng nề.
Một mình hắn khuấy đảo triều cục, lại khéo để nhà họ Giang mượn thế vươn lên, từ thủ chuyển công.
Ván cờ tranh quyền giằng co bao năm, cuối cùng cũng hạ quân.
Điều khiến dân gian bàn tán nhiều nhất bên chén trà, lại chẳng phải chuyện triều chính, mà là: Năm xưa, Nhiếp chính vương và Thái hậu từng có hôn ước, vì sao lại đứt gánh?
Ta không dừng chân, nên cũng không nghe được nhiều.
18
Lúc đến Thanh Phố, ta chỉ có một mình. Không ngờ khi rời đi, lại kéo theo cả một gia đình.
Mấy năm nay, Lâm Nhị giúp ta rất nhiều. Lần đầu gặp, hắn chỉ là một thanh niên ít nói. Nghe tin mẫu thân hắn nằm liệt giường, ta tăng lương, lại cho phép buổi chiều nếu không có việc gấp thì về chăm sóc. Hắn sững sờ thật lâu, nước mắt bất giác rơi, chỉ không ngừng nói cảm ơn.
Từ đó về sau, mọi công việc nặng nhọc trên thuyền hắn đều gánh vác, chèo thuyền, vá lưới, vác gạo, chạy việc, không việc gì không làm.
Ta lại dạy hắn biết chữ, tính toán, cách ăn nói giao tiếp, vốn là những kỹ năng Lục Khê Đình đã dạy ta, bây giờ ta truyền lại cho hắn, cũng coi như truyền cho một người thật thà.
Sau này, ta cứu được một đôi mẫu tử nhảy sông tự tử.
Hôm đó trời mưa, nước sông chảy xiết.
Lâm Nhị đứng ở mạn thuyền thấy một lớn một nhỏ chìm nổi trong nước, vẻ mặt do dự. Ta nói một tiếng “cứu”, hắn mới nhảy xuống nước, bơi rất nhanh, chỉ vài hơi đã kéo hai người lên thuyền.
Ta đưa họ vào căn phòng nhỏ ở đuôi thuyền, nấu một bát mì gà cho họ ấm người.
Nữ hài vừa ăn vừa nhìn mẫu thân, hỏi: “Chúng ta có thể không về nhà được không?”
Mắt nữ hài tròn xoe, mặt còn có chút bầu bĩnh. Thật là một đứa trẻ xinh xắn.
Nữ hài tên là Yến Yến, mẫu thân họ Liễu, vốn là người phương Bắc, vì chiến tranh loạn lạc mà đến đây, gả cho một tên công tử ăn chơi trong thành là Chu Đại Hải.
Chu Đại Hải nghiện cờ bạc nặng, nợ nần chồng chất, lại cùng quản gia nhà họ Trương bày mưu chuốc say Liễu nương, dâng cho công tử nhà họ Trương hưởng lạc.
Sau khi tỉnh lại, nàng vốn định tìm đến cái chết. Chu Đại Hải lại khóc lóc quỳ lạy, cầu xin tha thứ, lấy nữ nhi năm tuổi ra thề sẽ không tái phạm. Nàng mềm lòng, lại quay về nhà.
Ai ngờ Chu Đại Hải quay lưng lại bán nàng một lần nữa. Lần này, là bán cả nữ nhi. May mà các chủ nợ và Chu Đại Hải xảy ra tranh cãi, Liễu nương mới có cơ hội dắt con trốn đi trong đêm. Nhưng lang thang vài ngày, không nơi nào để đi, đành phải nhảy sông.
Vài ngày sau, Chu Đại Hải tìm đến, ta và hắn ký giấy, dùng năm mươi lạng chuộc lại thân phận tự do cho hai mẫu nữ.
Liễu nương ôm con, dập đầu ba cái, nghẹn ngào nói: “Ta biết nấu cao dán, có thể trồng thảo dược, cũng biết may vá. Chỉ cần không đuổi ta đi, Giang nương tử, ta nguyện cả đời làm trâu làm ngựa cho người.”
Ta cười lắc đầu: “Ta không cần ai làm trâu làm ngựa, các người có thể tự nuôi sống mình là được rồi.”
Ba ngày sau, Chu Đại Hải lại hối hận. Hắn ở bờ sông gây náo loạn, cản khách làm ăn, suýt nữa lật thuyền.
Lâm Nhị nắm chặt tay định xông lên, ta ngăn hắn lại, khóa cửa thuyền, nghỉ một ngày.
Sáng sớm hôm sau, bến tàu có tin: Chu Đại Hải đêm qua ăn trộm không thành, lại còn phóng hỏa đốt thuyền, bị quan phủ bắt tại trận.
Lâm Nhị nhìn ta một cái, hơi cau mày: “Là ngươi làm?”
Ta không trả lời, chỉ cười.
Thực ra ta sớm đã biết Chu Đại Hải sẽ không buông tha, hắn vẫn lén bám theo về tận nhà.
Trên đường, ta cố ý nói sổ sách bạc tiền còn để quên trên thuyền, đợi đến chạng vạng mới ra đầu thuyền, châm lửa đốt mấy tờ giấy. Quả nhiên, Chu Đại Hải chọn đúng lúc ấy mà trèo lên thuyền của ta.
Những năm qua, ta cùng nha môn bổ khoái cũng có đôi lần qua lại, lễ tết dâng biếu ít bánh kẹo trà ngon, mấy vụ án nhỏ, họ đều vui vẻ giúp đỡ.
Lục Khê Đình từng dạy ta: rồng mạnh đến mấy cũng sẽ thua rắn địa phương, làm việc phải đi ba bước tính năm bước.
Ta đứng bên bờ, nhìn đầu thuyền bị cháy đen, trong lòng dâng lên nỗi bất lực.
Có những người, in dấu quá sâu trong tâm trí, sâu đến mức chính bản thân cũng thành cái bóng họ để lại.
Chiếc thuyền ấy, vốn định sửa xong tặng cho Lâm Nhị. Nào ngờ đầu năm mẫu thân hắn mất, hắn nói bản thân không còn vướng bận, nguyện theo ta ngao du vạn dặm, ngắm trọn sông hồ biển cả.
Chu Đại Hải vì bán thê nhi, phóng hỏa gây thương tích, lại thêm trộm cắp bất thành, cuối cùng bị kết án vào ngục Đại Lý Tự, mười lăm năm tù — thực ra đã là bản án rất nặng.
Ta hỏi Liễu nương:
“Ngươi có dự định gì không?”
Nàng khẽ đáp:
“Nơi này không phải quê hương của ta, ta chẳng vương vấn điều chi. Nếu Giang nương tử chịu thu nhận, ta muốn cùng đi về phương Bắc, trở lại cố hương ngắm tuyết rơi.”
Ta gật đầu.
Thế là chúng ta chuẩn bị xe ngựa, mang theo vài kiện hành lý đơn sơ rồi lên đường.
Lâm Nhị đánh xe, Liễu nương dán diều giấy, Yến Yến vừa vỗ tay vừa hát.
Ta lơ đãng cắt giấy, trong đầu lại thoáng hiện cảnh ở tiệm cầm đồ không lâu trước: Gã tiểu nhị vừa nghe đến tên họ ta liền vội vã chạy đi báo tin. Chưởng quỹ đích thân ra đón, hàn huyên mời trà, cung kính quá mức. Ấm Thiết Quan Âm kia, giá đến mười lạng bạc một cân.
Ta không động đũa.
Chỉ lạnh nhạt cười thầm — Lục Khê Đình này, có cần phô trương đến mức ấy không. Không biết hắn lưu lại bao nhiêu bạc trong sổ sách, chỉ e mỗi lần ta gửi rút, hắn đều dễ dàng nắm được hành tung của ta.
Thật là, âm hồn chẳng chịu tan.
Xe ngựa từ từ rời cổng thành, bánh xe lăn qua vũng nước cạn, phản chiếu ánh sáng mờ ảo của mây trời.
(Hết)