Phu quân ôm con mất tích, ta đã cất công tìm kiếm suốt sáu năm.
Đế giày mòn vẹt, cáo thị dán khắp nơi, nhưng sống không thấy người, c h í c chẳng thấy x á c.
Tâm cũng đã c h í c, ta dừng chân ở một ngôi làng hẻo lánh trên núi.
Gã đàn ông góa thê tử hàng xóm hiền lành an phận, cũng dẫn theo một đứa con gái mồ côi. Bà mai kéo dây tơ hồng, ngày lành tháng tốt liền được định ra.
Ta cứ ngỡ cuộc đời này cuối cùng cũng đã vượt qua được cơn bĩ cực.
Nào ngờ đâu, hai phụ tử họ lại trở về.
Chàng thư sinh nghèo năm xưa nay khoác trên mình chiếc cẩm bào, đầu đội kim quan, toàn thân toát lên vẻ phú quý oai phong.
Con trai cũng đã cao lên một đoạn lớn, ngẩng đầu nhìn ta, giọng điệu ghét bỏ:
"Phụ thân, chúng ta còn quay lại đây làm gì?"
—
1.
Cái miệng của bà mai Lý, nổi tiếng khắp mười dặm tám làng.
Bà ấy thấy ta không lên tiếng liền rướn người tới trước:
"Cố nương tử, cô còn e ngại điều gì sao?"
Thấy ta vẫn lặng thinh, bà ấy thở dài một hơi thườn thượt.
"Đại nương là người từng trải. Trong cái làng này, người ta thành đôi cơ bản đều do một tay ta mai mối, có nhà nào mà không hòa thuận êm ấm đâu?"
Bà ấy bẻ ngón tay đếm, giống như đang đếm công đức mình tích cóp được bao năm nay:
"Cái cậu Thôi gia hàng xóm ấy, tuy nói là góa thê tử, lại còn mang theo một đứa con gái, nhưng nhân phẩm thì khỏi chê. Cô gả qua đó, cậu ấy có một mái nhà che mưa, cô có một người biết lạnh biết nóng, rổ rá cạp lại sống qua ngày thôi, dù sao cô cũng..."
Bà ấy khựng lại, ánh mắt quét một vòng quanh căn nhà trống hoác của ta, nuốt ngược nửa câu sau vào trong.
Ta biết bà ấy muốn nói gì.
Một người phụ nữ sống độc thân, không phu quân, không con, tồn tại trong ngôi làng này giống như một cái cây mọc giữa đường, vừa chướng mắt, lại vừa vướng víu.
"Lại nói, cô cũng đã đợi sáu năm rồi, còn muốn đợi đến bao giờ? Hai phụ tử đó nếu muốn về thì đã về từ sớm rồi.
Bớt đau buồn đi, con người mà, phải nhìn về phía trước."
Ta cúi đầu nhìn đôi bàn tay của mình.
Các khớp ngón tay thô to, lòng bàn tay in đầy những vết thương cũ do hái thuốc để lại.
Năm đó chính là nhờ đôi bàn tay này, ta đã giành giật lại người đàn ông của đời mình từ tay Diêm Vương.
Khi chàng tỉnh dậy, nói không nhớ mình là ai. Ta bảo không nhớ thì thôi, dù sao mạng cũng là do ta nhặt về, sau này cứ sống cho tốt là được.
Về sau lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, nước chảy thành sông, chàng đã cưới ta.
Tháng ngày tuy nghèo khó, nhưng cũng trôi qua rất đỗi yên bình.
Rồi sau đó nữa, chàng dẫn con trai ra ngoài mua muối, và không bao giờ trở lại.
"Cố nương tử?"
Ta hoàn hồn, cười nhạt: "Để ta suy nghĩ thêm."
Bà mai Lý há miệng, dường như vẫn muốn khuyên, nhưng rốt cuộc lại nhịn xuống, đứng dậy phủi phủi vạt áo.
"Được, nhưng bên nhà họ Thôi cũng đang vội, cậu ấy một mình mang theo đứa trẻ không dễ dàng gì, nếu cô bằng lòng, ngày mai ta bảo cậu ấy đến gặp cô."
Ta không đáp lời, chỉ gật gật đầu.
Tiễn bà mai Lý đi, ta đóng cửa lại, tựa lưng vào cánh cửa đã bong tróc lớp sơn.
Trên chiếc bàn ở gian nhà chính vẫn bày hai bộ bát đũa.
Mấy năm nay, mỗi dịp lễ tết ta đều bày thêm hai bộ, tết Thanh minh cũng đốt thêm hai xấp giấy tiền.
Ta cứ tưởng mình đã sớm buông bỏ được rồi, nhưng khi bà mai Lý nhắc đến chuyện dạm hỏi, phản ứng đầu tiên của ta không phải là có gả hay không —
Mà là nhỡ đâu có một ngày họ trở về thì sao?
Sắc trời ngoài cửa sổ dần tối đi, xa xa truyền đến tiếng chó sủa, xen lẫn tiếng trẻ con nô đùa.
Trong sân nhà họ Thôi hàng xóm cũng vang lên tiếng động. Con gái cậu ấy đang cười, lanh lảnh như tiếng chim hót.
Ta nghe âm thanh đó, đột nhiên cảm thấy mệt mỏi.
Không phải thân thể mệt mỏi, mà là tâm mệt mỏi.
Đợi sáu năm, tìm sáu năm, mong sáu năm, đến cuối cùng ngay cả một kết quả cũng chẳng có.
Có lẽ họ thật sự đã c h í c rồi.
Bà mai Lý nói đúng, con người mà, phải nhìn về phía trước.
Ánh trăng lác đác hắt vào, rơi trên hai bộ bát đũa trống không, giống như phủ một lớp sương mỏng.
Ta nhìn chằm chằm hồi lâu, tiến lên đưa tay dọn chúng đi.
Miệng bát va vào tủ gỗ, phát ra một tiếng vang nhẹ, vọng lại rất lâu trong căn nhà vắng vẻ.
Một lúc lâu sau, ta lau nước mắt, đối diện với căn phòng trống không, khẽ nói một câu:
"Vậy thì nhìn về phía trước đi."
Sáng sớm hôm sau, bà mai Lý lại đến.
Lần này bà ấy không đến một mình, phía sau còn có một người đàn ông đi theo.
Dáng người thon dài, mặc một bộ thanh sam đã giặt đến bạc màu, nhưng lại vô cùng sạch sẽ.
Nước da trắng trẻo, ánh mắt hiền hòa, đứng ở cửa, quay lưng về phía ánh sáng, giống như một cây trúc xanh tĩnh lặng.
Trên tay chàng xách một chiếc giỏ, bên trên phủ mảnh vải xanh, không biết đựng thứ gì.
"Cố nương tử." Chàng hơi khom người, giọng nói trong trẻo, giống như tiếng nước róc rách chảy qua khe núi.
Bà mai Lý đẩy chàng một cái: "Còn ngẩn ra đó làm gì, vào trong rồi nói chuyện!"
Chàng gật đầu, đặt chiếc giỏ xuống bên mép cửa.
"Đây là Thôi Thực, người của Thôi gia." Bà mai Lý giới thiệu
"Từng học qua mấy năm sách vở, trong nhà trước đây có mở một tiệm sách nhỏ, sau này... haizz, không nhắc đến chuyện đó nữa. Tóm lại là một người thật thà, để cậu ấy nói với cô vài câu nhé?"
Ta không nói gì, âm thầm liếc nhìn chàng một cái.
Chàng căng thẳng nắm lấy vạt tay áo, rũ mắt xuống, giống như đang cân nhắc câu từ, hồi lâu mới mở miệng:
"Cố nương tử, ta vụng miệng, không biết nói lời êm tai. Chỉ là... sau này có ta một miếng ăn, thì sẽ không thiếu phần của nàng, chiếc giỏ ngoài cửa kia, chính là toàn bộ gia tài của ta."
Nói xong, chính chàng lại đỏ bừng cả gốc tai trước.
Ta đột nhiên cảm thấy có chút hoảng hốt.
Năm xưa lần đầu tiên ta được cầu hôn, người đó đã nói gì nhỉ?
Hắn nói: "Cố Mi, đời này ta nợ nàng một mạng, sẽ dùng cả đời để trả."
Rõ ràng đã nói là cả đời.
Trớ trêu thay, cả đời ấy lại quá ngắn, ngắn đến mức ngay cả một câu từ biệt cũng không kịp nói.
Ta lại nhớ đến Phủ Nhi.
Thằng bé mới bốn tuổi, đứa con đáng thương của ta.
Cũng không biết thằng bé có phải chịu cảnh tội tình gì không...
"Cố nương tử?" Thôi Thực thấy ta thẫn thờ, khẽ gọi một tiếng.
Ta hoàn hồn, nhếch khóe miệng, nén dòng lệ đang trào dâng xuống:
"Ta không sao, mau vào nhà ngồi đi."
Bà mai Lý vỗ tay sau lưng: "Thế là đúng rồi! Ta đã nói mà, việc tốt thì hay gặp trắc trở, cuối cùng cũng thành!"
Ta nghiêng người nhường đường cho họ vào nhà, khóe mắt thoáng thấy bên ngoài sân có một cái đầu nhỏ xíu vụt qua —
Là con gái của chàng, nấp sau gốc cây lớn lén lút nhìn về phía này, thấy ta phát hiện ra, con bé sợ hãi rụt đầu lại, rồi lại nhịn không được thò ra nhìn.
Ta vẫy vẫy tay với con bé: "Sao không qua đây?"
Nó do dự một chút, chạy lon ton tới, ngẩng đầu nhìn ta, đôi mắt to sáng lấp lánh, giống như hai quả nho mới được rửa sạch.
"Dì." Nó rụt rè gọi một tiếng, giọng nói mềm mại.
Ta ngồi xổm xuống, hỏi nó: "Con tên là gì?"
"Thôi Tuệ Nhi."
"Tuệ Nhi." Ta lẩm nhẩm gọi một tiếng, đưa tay xoa xoa đầu con bé
"Mấy tuổi rồi?"
Nó híp mắt lại, xích lại gần ta một chút, ngón tay nhỏ xíu lén lút móc vào góc áo ta.
"Dì xinh đẹp ơi, con bốn tuổi rồi ạ!"
Trong lòng ta thở dài một tiếng.
Hai phụ tử nhà này, cũng chẳng dễ dàng gì.
Sau khi bà mai cười hớn hở rời đi, ta dỗ Tuệ Nhi vào nhà trong đếm đậu, quay người lại, quyết định nói rõ ràng mọi chuyện với Thôi Thực trước.
"Chàng có biết hoàn cảnh của ta không?"
Chàng đang ngồi xổm trước bếp lò giúp ta thêm củi, nghe vậy thì tay khựng lại, ngẩng đầu nhìn ta, gật gật đầu, nhỏ giọng "Ừm" một tiếng.
Ta không cam lòng hỏi: "Chàng không chê ta sao? Danh tiếng của ta không được tốt lắm..."
Kể từ khi đến đây dừng chân, hễ có ai biết phu quân và con trai ta mất tích không rõ tung tích, y như rằng sau lưng sẽ có vài lời bàn tán.
Nói ta cao số, nói ta khắc phu khắc tử, nói ai dính vào ta thì người đó xui xẻo.
Thôi Thực không vội trả lời.
Chàng đưa thanh củi trong tay vào bếp lò, phủi bụi trên tay, đứng dậy đối mặt với ta.
"Ta không tin những chuyện đó. Cái thuyết khắc phu khắc tử vốn dĩ chỉ là lời vô căn cứ. Phu quân và con nàng là mất tích, sao có thể đổ lỗi lên đầu nàng được?"
Khựng lại một lát, chàng lại nói: "Hơn nữa ta nghe nói, Cố nương tử mấy năm nay vì tìm họ mà một thân một mình đi rất nhiều nơi, chịu rất nhiều khổ cực. Thôi mỗ cảm thấy, nữ tử như vậy vô cùng kiên cường..."
Những năm nay, người khuyên ta tái giá không ít, người thương hại ta cũng nhiều.
Nhưng đây là lần đầu tiên có người nói với ta rằng, ta rất kiên cường, ta rất dũng cảm.
Đúng vậy.
Ngẫm nghĩ cẩn thận lại, ta cũng mới độ hai mươi tuổi đầu, sao lại nếm trải hết thảy đắng cay của đời người thế này.
Lời chàng nói vô cùng chân thật, chân thật đến mức có chút vụng về.
Nhưng cố tình lại là phần vụng về này, khiến trái tim ta đột nhiên nhẹ nhõm đi một chút.
"Có thể ta không thể sinh con được nữa. Năm đó sinh Phủ Nhi đã bị tổn thương thân thể, đại phu nói..."
"Không sao cả." Thôi Thực đáp lại rất nhanh, giống như đã nghĩ kỹ từ lâu.
"Ta có Tuệ Nhi là đủ rồi. Nàng đến đây, con bé có thêm một người mẫu thân yêu thương, rất tốt."
Chàng nói xong, dường như cảm thấy mình có chút quá vội vàng, gốc tai lại đỏ bừng lên, cúi gầm mặt xuống.
Ta nhìn bộ dạng này của chàng, không hiểu sao, bản thân cũng cảm thấy có chút ngượng ngùng.
"Ta... cũng không biết nói lời hay ý đẹp. Chỉ là..." Ta học theo giọng điệu của chàng
"Sau này nếu chàng không chê, tay nghề nữ công của ta cũng coi như tạm được, quần áo, giày vớ của Tuệ Nhi, ta đều có thể làm."
Nước trên bếp lèo xèo sôi, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, làm mờ đi ánh mắt của chàng.
Ngoài cửa sổ, lá cây táo bị gió thổi xào xạc, Tuệ Nhi ở trong phòng cuối cùng cũng đếm đúng số hạt đậu, sung sướng hét lên một tiếng.
"Haha, cuối cùng cũng đếm xong rồi!"
Mọi chuyện cứ thế được định ra.
Không có kiệu hoa, không có sính lễ, bà mai Lý xem ngày giúp chúng ta, nói mười tám tháng sau nữa là ngày lành, thích hợp để cưới gả.
Thôi Thực nói được.
Chàng đi tìm thợ mộc trong làng, bàn bạc chuyện đập thông bức tường ngăn giữa hai khoảng sân.
Thợ mộc hỏi chàng muốn xây cánh cổng hình bán nguyệt rộng bao nhiêu, chàng suy nghĩ một lát, bảo không cần cổng, đập thông trực tiếp luôn, gộp hai nhà thành một.
Ý là không phân nhà nàng nhà ta, không có phân biệt trong ngoài. Từ nay về sau, chính là người một nhà.
Chập tối, Tuệ Nhi ngồi xổm dưới chân tường, cầm nhành cây vẽ lên nền đất bùn.
Con bé vẽ hai người lớn đang dắt tay một đứa trẻ, xiêu xiêu vẹo vẹo, giống như ba chiếc đũa đang xếp thành hàng.
"Đây là phụ thân, đây là dì, đây là con." Con bé chỉ vào mấy hình nhân nhỏ xíu, từng người từng người đọc cho ta nghe.
Thôi Thực ngồi xổm bên cạnh, giả vờ giúp con bé tô thêm vài nét, nhưng đôi tai lại đỏ rực lên từ nãy đến giờ.
Ánh tà dương nhuộm đỏ một nửa bầu trời thành màu cam sẫm, khói bếp từ trên nóc nhà của từng hộ gia đình bay lên, méo mó, chầm chậm.
Ta xoay người đi vào nhà, chuẩn bị đi nấu bữa tối.
Ngọn lửa trong bếp liếm láp đáy nồi, soi sáng cả căn nhà đỏ rực.
Nước đã sôi, sủi bọt ùng ục, giống như đang thay ai đó nói ra những lời chẳng thể thốt nên lời.
Chẳng bao lâu, ba bát mì thịt băm nóng hổi bốc khói nghi ngút được ta bê lên bàn.
Ta nhìn Tuệ Nhi ra sức nuốt nước miếng ừng ực, tròng mắt sắp rơi luôn vào bát rồi, nhưng con bé vẫn gắt gao nắm chặt đũa, nhất quyết không nhúc nhích.
"Ăn đi con." Ta đẩy chiếc bát về phía con bé thêm một chút.
Nó ngẩng đầu nhìn Thôi Thực, Thôi Thực gật gật đầu, nó mới bưng bát lên, từng ngụm từng ngụm nhỏ mà ăn.
Nói là ngụm nhỏ, nhưng tốc độ lại chẳng hề chậm chút nào, húp sột soạt sột soạt, hai bên má phồng lên như một con sóc nhỏ.
Ta ngồi xuống, bản thân cũng bưng lên một bát, vừa gắp một đũa, khóe mắt liếc thấy Thôi Thực chưa động đũa.
Chàng cúi đầu, nhìn bát mì, không biết đang suy nghĩ điều gì.
"Sao vậy? Không hợp khẩu vị sao?"
"Không phải." Chàng lắc đầu
"Chỉ là... đã lâu lắm rồi chưa được ăn một bữa cơm nóng hổi làm ở nhà."
Nói xong, giống như cảm thấy lời này quá sướt mướt, vội vàng cúi đầu và luôn một ngụm mì.
Ta không nói gì, gắp thêm cho chàng một đũa thịt băm vào bát.
Tuệ Nhi ăn vội, nước dùng dính lem nhem nửa khuôn mặt, ta lấy khăn lau miệng cho con bé, nó toét miệng cười với ta, lộ ra hai chiếc răng cửa bị sún.
Sau này ta mới biết, Tuệ Nhi sinh ra không bao lâu thì mẫu thân của con bé vì bạo bệnh mà qua đời.